Phan Thụy

"Người giàu dùng nợ làm đòn bẩy đầu tư và gia tăng dòng tiền. Còn người nghèo dùng nợ để mua những thứ làm cho người giàu càng giàu thêm."Grant Cardone

Pages

Friday, December 31, 2010

Tổng hợp kinh tế thế giới và Việt Nam 2010

Kinh tế thế giới

Mặc dù đã thoát khỏi đáy của cuộc suy thoái lớn nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1930, nhưng nền kinh tế toàn cầu trong năm 2010 lại bị bao phủ bởi bóng mây đen khủng hoảng nợ châu Âu và nguy cơ “chiến tranh tiền tệ” giữa các cường quốc. Năm 2010 cũng chứng kiến sự vươn lên của Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau khi vượt qua Nhật Bản, cũng như sự mất giá nghiêm trọng luân phiên của các loại tiền tệ.

Được  khởi đầu từ tháng 12/2009, sự lo ngại của giới tài chính quốc tế về khả năng vỡ nợ của Hy Lạp tiếp tục tăng lên trong những tháng đầu năm 2010, khi nước này liên tục bị các hãng xếp hạng tín nhiệm lớn như Moody, Fitch Ratings và S&P đánh tụt hạng. Song song đó, các nước thuộc khu vực sử dụng đồng EUR (eurozone)  khác như Ai Len, Tây Ban Nha, hay Bồ Đào Nha cũng rơi vào vòng xoáy nợ công. Thêm vào đó, những lời cảnh báo về các khoản nợ công khổng lồ của những cường quốc như Mỹ, Anh hay Nhật cũng liên tục xuất hiện trên các mặt báo, càng làm tăng thêm lo ngại về đà phục hồi kinh tế có thể bị chững lại.



Sự lo lắng về nợ công chỉ tạm được xoa dịu sau đó khi IMF và Eurozone cùng thông qua gói giải cứu trị giá đến 110 tỷ EUR dành cho Hy Lạp vào ngày 3/5/2010. Ngoài ra, việc chính phủ Hy Lạp thông qua những biện pháp thắt chặt chi tiêu khắt khe cũng khiến giới đầu tư quốc tế phần nào lấy lại niềm tin. Nhưng mọi việc chưa dừng lại ở đó, khi sau đó vài tháng, đến lượt Ai Len phải lên tiếng cầu cứu trong thời điểm cuối năm, thậm chí khả năng phá sản của nước này còn cao hơn Hy Lạp. Mối lo sợ về sự lây lan khủng hoảng nợ công một lần nữa lại đưa kinh tế thế giới đứng trước nguy cơ rơi vào cuộc suy thoái kép.

Bên cạnh cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu, sự phục hồi kinh tế thế giới trong năm qua còn bị tác động bởi những động thái trả đũa lẫn nhau giữa các nền kinh tế lớn trên thị trường tiền tệ. Sau một thời gian dài liên tục thúc ép Trung Quốc thả nổi đồng nhân dân tệ nhưng không đạt được kết quả mong muốn, Mỹ đã chủ động phá giá đồng USD bằng cách tung ra chương trình nới lỏng định lượng lần hai (QE II) trị giá 600 tỷ USD. Song song đó, các quốc gia phát triển khác như Anh, Nhật cũng bơm thêm tiền để hỗ trợ nền kinh tế và can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ngăn chặn đà tăng giá của đồng nội tệ. Với chính sách nới lỏng của các nước phát triển, dòng vốn nóng đã chảy mạnh vào thị trường các nền kinh tế mới nổi khiến đồng tiền của các nước này tăng giá, và những nước như Braxin, Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước châu Á một mặt phải ngăn chặn dòng vốn nóng, một mặt phải có những chính sách thắt chặt tiền tệ để ngăn ngừa lạm phát.

Được cho là nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 2007, khởi điểm từ sự sụp đổ của thị trường cho vay nhà đất dưới chuẩn tại Mỹ, hệ thống ngân hàng trong năm 2010 tiếp tục được quan tâm và chú ý. Các bài kiểm tra stress test ngân hàng tại Mỹ và châu Âu tuy đã cho kết quả khả quan, nhưng sự an toàn trong hoạt động của các ngân hàng vẫn luôn được theo dõi và cảnh báo. Và hệ quả là hiệp định Basel III đã được ký kết và thông qua trong thời điểm gần cuối năm 2010, với những chỉ tiêu an toàn vốn và sự kiểm soát chặt chẽ hơn đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng, nhằm đảm bảo ngăn chặn rủi ro cho chính các ngân hàng trong cả thời kỳ khủng hoảng.

Tuy không rơi vào cuộc suy thoái kép như những lo sợ trước đó, nhưng sự phục hồi kinh tế thế giới 2010 đã thực sự chậm lại, trước những căng thẳng và bất ổn về chính trị, kinh tế cũng như mối quan hệ “khó ở” giữa các nước lớn, dẫn đến nguy cơ gia tăng chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Hệ thống tài chính và tiền tệ toàn cầu vẫn cho thấy những bất ổn mang tính cấu trúc và hệ thống, mà bằng chứng là việc các đồng tiền đều bị mất giá trầm trọng so với vàng. Trong khi đó, một số nước vẫn phải đối mặt với nguy cơ rơi vào giảm phát.

Kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn với những mối lo ngại thường trực, nền kinh tế Việt Nam dù đã sớm thoát khỏi khủng hoảng nhưng vẫn chịu tác động từ những thách thức của kinh tế toàn cầu. Mở đầu năm 2010, chính phủ chủ trương thắt chặt chính sách khi chỉ số CPI tăng mạnh trong 3 tháng đầu năm, dẫn đến tăng trưởng tín dụng rất thấp ( 6 tháng đầu năm chỉ ở mức 10,52%). Đặc biệt điều đáng chú ý là dòng tín dụng ngoại tệ trong thời gian này tăng trưởng mạnh mẽ, và do đó mang đến rủi ro về tỷ giá cho những tháng cuối năm.

Từ trước đến nay, tỷ giá luôn là một vấn đề nhức nhối trong chính sách điều hành vĩ mô của Việt Nam. Bất chấp việc ngân hàng nhà nước đã hai lần phá giá VNĐ/USD trong năm 2010 với mức độ lên đến 5,5%, thì với thâm hụt thương mại tiếp tục mở rộng, nguồn vốn FDI khó khăn, cộng thêm việc tăng trưởng tín dụng cao bất thường thời điểm đầu năm đã khiến tỷ giá USD trên thị trường tự do càng về cuối năm càng leo thang mạnh mẽ, gây ra những bất ổn vĩ mô và khó khăn cho các nhà điều hành chính sách kinh tế.

Vụ phá sản của tập đoàn kinh tế Vinashin cũng là một trong những sự kiện làm rúng động nền kinh tế nước nhà, và được cộng đồng quốc tế quan tâm theo dõi. Mặc dù chính phủ đã tái cơ cấu hoạt động của tập đoàn này nhưng những khoản nợ khổng lồ của Vinashinh đã khiến hoạt động cho vay của nhiều ngân hàng phải thận trọng hơn, trong khi mức độ rủi ro của một số tổ chức có quan hệ tín dụng với Vinashin tăng lên đáng kể. Ngoài ra, uy tín tín dụng của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng không nhỏ khi trước đây chính phủ đã bảo lãnh Vinashin vay 750 triệu USD trái phiếu từ thị trường quốc tế.

Nếu như xuất khẩu tiếp tục có sự tăng trưởng tích cực so với năm 2009 và vượt hơn 10 tỷ USD so với kế hoạch là một điều đáng vui mừng, thì việc nhập khẩu cũng có mức tăng tương tự đã khiến nhập siêu tiếp tục tăng lên so với năm 2009, từ mức 12,2 tỷ lên gần 12,4 tỷ trong năm 2010. Và thâm hụt thương mại tiếp tục gây áp lực lên cán cân thanh toán, khi mà dòng vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa thật sự phục hồi mạnh mẽ sau suy thoái.

Bên cạnh đó, mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,78%, vượt so với kế hoạch 6,5%, nhưng kiềm chế lạm phát tiếp tục là bài toán đau đầu cho những nhà điều hành chính sách, nhất là càng về thời điểm những tháng cuối nằm. Sự cộng hưởng của các yếu tố giá vàng, USD liên tục nóng sốt, giá nguyên liệu quốc tế đầu vào tăng cao, thời tiết bão lụt tại một số vùng miền đã khiến chỉ số CPI năm một lần nữa tăng trở lại lên hai chữ số ở mức 11,75%. Điều này khiến ngân hàng nhà nước phải có động thái thắt chặt trở lại trong những tháng cuối năm, thu hẹp kỳ hạn trên thị trường mở, nâng lãi suất cơ bản lên 9% khiến mặt bằng lãi suất trên thị trường bị đẩy lên cao hơn, càng làm cho hoạt động của ngành ngân hàng thêm khó khăn cả trong khâu cho vay lẫn huy động.

Những rủi ro kể trên trong nền kinh tế đã khiến các hãng đánh giá định mức tín nhiệm liên tục đánh tụt hạng trái phiếu Việt Nam, đầu tiên là Fitch Ratings hạ bậc xếp hạng từ mức BB- xuống B+ trong tháng 7/2010, tới tháng 12 đến lượt Moody hạ từ Ba3 xuống B1 và S&P hạ xuống BB- từ BB. Điều này đã làm giảm sức hấp dẫn của Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế. Số liệu thống kê cho thấy, với mục tiêu thu hút vốn 22-23 tỷ USD trong năm 2010, nhưng Việt Nam chỉ thu hút được gần 18,6 tỷ, đạt gần 81% kế hoạch. Tương tự, dòng vốn nóng đầu tư tài chính (FII) dù đổ ào ạt vào các quốc gia tại châu Á, nhưng lại bỏ qua Việt Nam.

Ngành ngân hàng

Với những khó khăn trên, năm 2010 thật sự là một năm đầy khó khăn cho ngành ngân hàng trong nước, khi đây cũng là thời hạn chót tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng. Đối với những ngân hàng nhỏ và chưa đáp ứng được yêu cầu, đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng gì, khi thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm và đi xuống trong năm, dòng tiền bị hạn chế và những bất ổn vĩ mô càng khiến việc thu hút vốn hay tăng vốn  trở thành một thách thức không nhỏ.Tuy nhiên, điều đáng mừng là đến tháng 12 chính phủ đã thông qua đề xuất của NHNN giãn thời hạn tăng vốn cho đến tháng 12/2011, khi nhận thấy một số ngân hàng nhỏ không đủ khả năng tăng vốn đúng như thời gian quy định. Quyết định này được xem là điểm sáng cuối năm và trở thành một trong những yếu tố giúp thị trường chứng khoán phục hồi.

Quyết định của Ngân hàng nhà nước đóng cửa sàn vàng và hạn chế giao dịch vàng trên tài khoản trong thời điểm đầu năm cũng gây không ít trở ngại cho các ngân hàng trong tính chủ động kinh doanh, và làm suy giảm lợi nhuận đáng kể của một số ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực này. Nhiều  ngân hàng đều không đạt được lợi nhuận khả quan và phải điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận, trong khi một số khác quay sang “kiếm ăn” trên thị trường trái phiếu và thị trường mở, với chênh lệch lãi suất trong những tháng đầu năm từ 4%-5%. Đặc biệt, một số ngân hàng lớn với lợi thế nắm giữ nhiều giấy tờ có giá đã tận dụng nguồn vốn giá rẻ từ thị trường mở để cho vay trên thị trường liên ngân hàng với rủi ro thấp mà lợi nhuận cao.

Ngoài ra, thông tư 13 và 19 vẫn giữ nguyên thời hạn áp dụng từ ngày 01/10/2010, với những chỉ tiêu an toàn vốn cao hơn càng khiến hoạt động của ngành ngân hàng trong nước thêm muôn vàn khó khăn. Các ngân hàng buộc phải hạn chế tín dụng  nhưng vẫn phải đẩy mạnh huy động, trong khi hoạt động huy động và cho vay vàng trong những tháng cuối năm lại bị giới hạn theo thông tư 22, vì vậy đã dẫn đến một cuộc đua lãi suất ngấm ngầm và sự cạnh tranh trong các chương trình khuyến mãi rất gay gắt giữa các ngân hàng trong thời điểm cuối năm.

Điều đáng chú ý là cuộc đua lãi suất lần này có sự tham gia rất tích cực và thậm chí là đi đầu của các ngân hàng lớn. và hệ quả là nguồn tiền gửi tại các ngân hàng càng trở nên bất ổn định, khi chỉ chạy loanh quanh trong hệ thống, gây căng thẳng thanh khoản và thậm chí có thời điểm khiến một số ngân hàng nhỏ bị mất thanh khoản buộc phải tìm đến thị trường liên ngân hàng, khiến lãi suất trên thị trường 2 có lúc lên đến 25%. Trong khi đó, lãi suất trên thị trường 1 quá cao đã đẩy lãi suất cho vay tăng tương ứng, khiến rủi ro tín dụng tăng cao buộc các ngân hàng phải “kiềm chế tín dụng tự nguyện”, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến “nước rút” tăng lợi nhuận trong những tháng cuối năm của một số ngân hàng.

Tuy nhiên, theo báo cáo của NHNN, tăng trưởng tín dụng của toàn ngành trong năm 2010 vẫn đạt mức 27,65% (đã loại trừ hư số tăng của giá vàng), tiếp tục vượt so với kế hoạch 25%. Đáng chú ý là tăng trưởng tín dụng ngoại tệ lên đến 37,76%, trong khi VNĐ chỉ ở mức 25,34%. Cũng theo báo cáo này thì tăng trưởng huy động vốn ghi nhận ở mức 24,5%, trong khi tổng phương tiện thanh toán cũng tăng 23% so với 2009, vượt kế hoạch 20% đề ra.

Dự báo năm 2011

Trong năm 2011, NHNN đã đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 23%, tiếp tục giảm so với những năm qua, cho thấy chính phủ tiếp tục ưu tiên ổn định vĩ mô hơn tăng trưởng. Tổng phương tiện thanh toán cũng được đặt ở mức tăng trưởng 21- 24%. Tuy nhiên, với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 7 – 7,5% trong năm 2011 đã được Quốc Hội thông qua, thì tăng trưởng tín dụng trong năm 2011 có thể phải cao hơn so với kế hoạch đặt ra thì mới đáp ứng được mục tiêu tăng trưởng như thế.

Trong khi đó, lãi suất có khả năng sẽ phải giảm lại trong những tháng đầu năm sau. Thực tế là lãi suất quá cao trong thời gian qua đã khiến các doanh nghiệp khó lòng tìm đến nguồn vốn ngân hàng, trong khi chính các ngân hàng vì căng thẳng thanh khoản và cũng muốn hạn chế cho vay nên cũng đã áp lãi suất rất cao. Tuy nhiên, qua đầu năm sau, khi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mới được bắt đầu, tính thanh khoản của hệ thống cũng ổn định trở lại, có khả năng các ngân hàng sẽ bắt đầu cạnh tranh lãi suất cho vay  để thúc đẩy hoạt động tín dụng – hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính yếu của hầu hết các ngân hàng..

Về cơ bản, muốn kiềm chế lạm phát, chính phủ thường thực thi chính sách thắt chặt thông qua biện pháp tăng lãi suất. Tuy nhiên, nếu lãi suất luôn duy trì ở mức quá cao (hiện tại vẫn nằm trong khoảng 18-20%), có thể sẽ làm giảm động lực sản xuất của các doanh nghiệp, từ đó tạo ra sự khan hiếm hàng hóa và đẩy giá cả lên cao (có sự góp phần của chi phí lãi vay cao), từ đó rất dễ dẫn đến tình trạng lạm phát đình đốn.Vì vậy, khả năng NHNN sẽ phải kéo mặt bằng lãi suất về mức hợp lý hơn so với hiện tại, nếu như muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng và tránh hiện tượng lạm phát đình đốn. Thực tế cũng cho thấy rằng, tính thanh khoản của các ngân hàng chỉ thường nóng lên trong những tháng cuối năm (nếu như không có những thay đổi chính sách đột ngột), và do đó lãi suất cũng chỉ thường tăng mạnh trong thời điểm này.

Thị trường vàng

Mở đầu năm 2010, giá vàng thế giới ở mức 1095 USD/oz, đến thời điểm cuối năm (cập nhật ngày 30/12), giá kim loại quý này hiện ở mức 1410 USD/oz, tức tăng gần 29%, thậm chí mức kỷ lục cao nhất mà thị trường này đạt được vào đầu tháng 12 là 1430. Xu hướng tăng vẫn mạnh mẽ của giá vàng cho thấy giới đầu tư tiếp tục đặt cược vào sự đi lên của thị trường kim loại quý này, khi mà niềm tin vào tiền giấy ngàng càng bị sụt giảm nghiêm trọng trước tình hình khủng hoảng nợ của các nước, và chính sách in tiền “vô tội vạ” của các chính phủ, trong khi nhu cầu nắm giữ và đa dạng hóa dự trữ ngoại hối vào vàng vẫn cho thấy khuynh hướng tăng lên, nhất là tại các quốc gia châu Á.

Diễn biến theo giá vàng thế giới, giá vàng trong nước tiếp tục có một năm nhảy múa điên cuồng, nhất là thời điểm những tháng cuối năm. Ngày 2/1/2010, giá vàng SJC được niêm yết bán ra ở 26,74 tr/lượng, đến ngày 30/12/2010, giá niêm yết bán ra là 36,1 tr/lượng, tương ứng tăng 35%, mức tăng thậm chí còn mạnh hơn giá vàng thế giới. Kỷ lục mới của giá vàng trong nước trong năm qua được ghi nhận tại 38,2 tr/lượng vào ngày 9/11, thời điểm mà chênh lệch mua bán lên đến 1 tr/lượng.

Nếu như trong quý 2, giá vàng trong nước thường xuyên thấp hơn giá thế giới, thì cuối quý 3 và đầu quý 4, trước sự đi lên bền vững của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước còn bứt phá mạnh mẽ hơn. Nguyên nhân được giải thích là do những tháng đầu năm các doanh nghiệp đã xuất đi một lượng vàng tương đối lớn dẫn đến nguồn cung thiếu hụt trong những tháng cuối năm, bên cạnh việc chênh lệch tỷ giá USD trên thị trường tự do và trong ngân hàng tăng lần lượt từ 1 nghìn lên 2 nghìn, đã khiến chênh lệch giữa giá trong nước và giá thế giới ngày càng mở rộng, có thời điểm lên tới hơn 2 tr đồng/lượng.

Màn trình diễn ấn tượng của thị trường vàng trong năm càng khiến thị trường chứng khoán thêm ảm đạm, trong khi nguồn tiền gửi vào các ngân hàng có sự chuyển đổi đáng kể từ VNĐ sang vàng. Đặc biệt trong bối cảnh lạm phát trong nước cao, nhu cầu tích trữ và đầu tư vào vàng vẫn cho thấy sự tăng lên không ngừng, đẩy suất sinh lời của kim loại quý này trong 2 năm gần đây tăng mạnh mẽ so với các loại tài sản khác.

Tuy nhiên, sự biến động quá mạnh của giá vàng đã gây bất ổn lên tình hình kinh tế xã hội, và gây khó khăn cho việc điều hành các chính sách vĩ mô, tăng áp lực lên lạm phát. Vì vậy, sau khi “phế bỏ” sàn vàng trong tháng 3 đầu năm,  NHNN trong những tháng cuối năm tiếp tục đưa ra lần lượt 5 giải pháp để kiểm soát chặt chẽ hơn thị trường này: thứ nhất, ban hành thông tư 22 hạn chế hoạt động huy động vàng của các NHTM, sau đó lần lượt giảm thuế nhập khẩu vàng từ 1% xuống 0% và kéo dài thời gian nhập khẩu đến hết năm, tăng thuế xuất khẩu vàng từ 0% lên 10%, bán USD ra để bình ổn thị trường ngoại tệ gián tiếp bình ổn thị trường vàng, và gần đây nhất là quyết định đánh thuế cá nhân 5% đối với những khoản tiền gửi bằng vàng.

Thị trường ngoại hối

Trái ngược với xu hướng đi lền bền vững của thị trường vàng, thị trường ngoại hối thế giới tiếp tục có một năm biến động khó lường, với chủ đạo là đồng USD. Nửa đầu năm 2010, chỉ số USD Index (dùng để đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 đồng tiền mạnh) đi lên mạnh mẽ từ mức 77.27 lên 88.77 do những mối lo ngại về tình hình khủng hoảng nợ châu Âu, thì nửa cuối năm chỉ số này đã giảm một mạch, có thời điểm về tận 75.62, khi mà mối lo ngại về nợ châu Âu đã tạm dừng, trong khi việc Fed tung ra gói kích thích mới lên đến 600 tỷ USD cũng khiến giới đầu tư tránh xa đồng bạc xanh. Tuy nhiên, sự đi xuống của đồng USD phần nào đã tạm chững lại trong 2 tháng cuối năm nhờ những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, cũng như những diễn biến mới về tình hình nợ tại Ai Len, một trong 4 quốc gia (nhóm PIGS) bị thâm hụt ngân sách nặng nề nhất trong nhóm nước sử dụng đồng EUR.

Một trong những sự kiện đáng chú ý nhất trong năm qua chính là việc Trung Quốc đã quyết định thả nổi đồng nhân dân tệ trở lại lần đầu tiên kể từ tháng 7/2008. Trước sức ép từ Mỹ và cộng đồng quốc tế, chính phủ Trung Quốc đã cam kết sẽ điều chỉnh linh hoạt tỷ giá từ tháng 6/2010. Song song đó, nước này cũng không giấu tham vọng quốc tế hóa đồng tiền của mình. Sau những hiệp định hoán đổi tiền tệ với nhiều nước trong năm ngoái, năm nay Trung Quốc tiếp tục thỏa thuận với Nga không thanh toán bằng USD trong thương mại song phương, mà sử dụng đồng nhân dân tệ và rup Nga. Thêm vào đó, nước này cũng tiếp tục phát hành trái phiếu bằng nhân dân tệ, hay quyết định tung ra hợp đồng giao dịch vàng quốc tế đầu tiên thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ vào đầu năm 2011.

Nếu như diễn biến đồng USD trên thị trường thế giới tăng giảm khó lường, thì tỷ giá USD/VNĐ trong nước chỉ ở một thế đi lên. Bất chấp việc NHNN đã 2 lần phá giá VNĐ trong năm nay đến mức 5,5%, tỷ giá USD trên thị trường tự do chỉ ổn định được trong 7 tháng đầu năm, để rồi càng về những tháng cuối năm, thị trường ngày càng trở nên căng thẳng, khi có thời điểm chênh lệch giữa 2 thị trường lên đến 2000 đồng/USD.

Việc tăng trưởng tín dụng USD trong nửa đầu năm 2010 quá cao được xem là nguyên nhân chính dẫn đến bất ổn tỷ giá cuối năm, khi nhu cầu tìm nguồn USD để trả nợ lên cao. Song song đó là thâm hụt thương mại, thâm hụt cán cân thanh toán tăng mạnh, lạm phát cao hay dự trữ ngoại hối co lại đều là những nhân tố khiến niềm tin vào tiền đồng ngày càng sụt giảm. Ngoài ra, việc giá vàng nhảy múa liên tục và chênh lệch quá lớn so với giá thế giới cũng gây áp lực tăng giá lên USD trên thị trường tự do, khi nhu cầu gom USD nhập lậu cũng tăng mạnh. Tuy nhiên, loại trừ tất cả những yếu tố này, theo một số chuyện gia kinh tế, hiện tại VNĐ đang bị định giá cao hơn so với giá trị thực, vì thế mà nhập siêu đã liên tục tăng lên trong những năm trở lại đây.

Chính sách điều hành không rõ ràng và thiếu nhất quán của NHNN cũng đưa đến tâm lý kỳ vọng mất giá của tiền đồng, càng khiến một bộ phận dân cư ưa thích nắm giữ ngoại tệ hơn. Ngoài ra, sau khi đã phá giá đến 2 lần trong năm nay, thì những tháng cuối năm NHNN không còn một biện pháp nào khả thi và hiệu quả để can thiệp vào thị trường, khiến tỷ giá trên thị trường tự do dù có quy mô nhỏ bé hơn những lại trở thành tỷ giá tham chiếu cho các ngân hàng.

Trong khi đó, với tình hình huy động VNĐ khó khăn và tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao, bắt đầu nửa cuối năm nhiều ngân hàng đã nâng lãi suất huy động USD không ngừng nhằm thu hút tiền gửi ngoại tệ. Với lãi suất USD tăng cao và kỳ vọng giá USD sẽ còn tăng lên, nhiều người cũng đã chuyển sang gửi USD thay vì VNĐ, càng làm nhu cầu USD thêm căng thẳng.

Tính cho đến ngày 31/12,  giá USD trên thị trường tự do vẫn đang xoay quanh mốc 21.000, tức cao hơn 2000 so với tỷ giá chính thức NHNN niêm yết, và cao hơn 1500 so với tỷ giá trần các ngân hàng niêm yết. Hầu hết các tổ chức kinh tế và giới đầu tư đều dự đoán NHNN sẽ phá giá VNĐ sau tết nguyên đán, nhưng mức độ phá giá như thế nào là chưa thế biết trước, tuy nhiên tỷ giá chính thức sẽ khó có thể vượt qua mốc 20.000. Do đó, sang thời điểm đầu năm sau, khi mà cung cầu USD ổn định trở lại, khả năng USD trên thị trường tự do sẽ giảm trở lại sát với tỷ giá ngân hàng niêm yết hơn.

No comments:

Post a Comment