Phan Thụy

"Người giàu dùng nợ làm đòn bẩy đầu tư và gia tăng dòng tiền. Còn người nghèo dùng nợ để mua những thứ làm cho người giàu càng giàu thêm."Grant Cardone

Pages

Wednesday, November 30, 2011

Hoạt động ngành ngân hàng năm 2011

Kinh tế thế giới

Tiếp nối diễn biến năm 2010, 2011 tiếp tục chứng kiến cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu ngày càng trầm trọng và lan rộng, khiến cả thế giới lo ngại về một đợt suy thoái mới, đặc biệt trước tình hình kinh tế yếu kém của Mỹ, và bất ổn kinh tế cùng lạm phát dâng cao tại các nền kinh tế châu Á nói chung và Trung Quốc nói riêng. Trong khi đó, những thảm họa thiên nhiên như động đất tại Nhật hồi đầu năm, hay các cuộc bạo động chính trị tại khu vực Bắc Phi – Trung Đông càng khiến nền kinh tế toàn cầu gặp thêm muôn vàn khó khăn.

Chưa bao giờ khu vực sử dụng đồng EUR (eurozone) lại tiến gần đến nguy cơ bị tan rã đến thế. Sau Hy Lạp và Bồ Đào Nha của 2010, đến lượt Italy và Tây Ban Nha rơi vào tình trạng mất kiểm soát với nợ công và có khả năng phá sản trong năm nay. Lợi suất trái phiếu của Italy leo lên mức cao kỷ lục, trong khi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thay phiên nhau hạ bậc tín nhiệm càng làm cho việc huy động vốn từ các tổ chức quốc tế của các nước này thêm khó khăn. Yêu cầu “thắt lưng buộc bụng” được đặt ra, và chính phủ vấp phải sự phản ứng quyết liệt từ người dân, dẫn tới những đòi hỏi tái cơ cấu bộ máy nhà nước. Đến tháng 11, thủ tướng Hy Lạp Papanderou và thủ tướng Ý Berlusconi phải từ chức, tiếp đến Đảng Xã Hội đang cầm quyền tại Tây Ban Nha cũng thất bại trong cuộc bầu cử sau đó.



Trong khi đó, Đức và Pháp vẫn chưa thể thống nhất trong các chương trình giải cứu dành cho nhóm nước khủng hoảng nợ công, thậm chí hai nước này còn có nguy cơ bị hạ bậc tín nhiệm do các tổ chức xếp hạng như S&P lo ngại rủi ro sẽ lan ra khắp các nước trong nhóm eurozone. Một số nước lớn như Trung Quốc thì đã thẳng thừng tuyên bố sẽ không tham gia vào các quỹ ổn định tài chính châu Âu., khiến nguy cơ tan rã của khu vực sử dụng đồng EUR hiển hiện hơn bao giờ hết.

Ở bên kia bán cầu, nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ cũng đang đau đầu trong việc cố gắng cắt giảm thâm hụt ngân sách đang ngày càng mở rộng ra. Ngày 1/8 năm nay, nước này đã buộc phải nâng trần nợ công thêm 2,8 nghìn tỷ, và thông qua những biện pháp cắt giảm ngân sách để tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ. Nhưng trước những dữ liệu kinh tế yếu kém và ảm đạm, sau khi kết thúc gói QE 2 vào tháng 6, Fed sau đó buộc phải tung ra gói QE 2.5 vào tháng 9 để kích thích kinh tế, bất chấp đã bị hãng S&P hạ 1 bậc xếp hạng tín nhiệm xuống AA+.

Tuy nhiên, không chỉ riêng gì Mỹ, mà các nền kinh tế phát triển khác tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ. Nhật Bản trong năm qua đã liên tiếp bơm tiền ào ạt để ngăn chặn đồng JPY tăng giá, trong khi các ngân hàng trung ương khác như châu Âu(ECB), Thuy Sỹ (SNB), Úc (RBA) lại đi theo con đường giảm lãi suất. Ngược lại, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tại châu Á lại phải tăng lãi suất và thắt chặt tiền tệ để đối phó với cơn bão lạm phát ngày càng mạnh lên, với giá lương thực và hàng hóa liên tục leo thang, bong bóng bất động sản và chứng khoán, mà một phần nguyên nhân bắt nguồn từ dòng tiền nóng từ các nước phát triển chảy vào. Nhưng tất cả những điều này cũng chưa thể giải quyết được sự mất cân bằng trong tăng trưởng kinh tế giữa các nước phát triển và các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi,

Mối lo sợ về một cuộc khủng hoảng và suy thoái mới còn bắt nguồn từ những bất ổn chính trị và bạo động tại Trung Đông – Bắc Phi, chiến tranh Lybia hay những thảm hỏa thiên nhiên như hiểm họa động đất và sóng thần tại Nhật hồi đầu năm nay. Những nhân tố rủi ro địa chính trị trên đã khiến giá dầu tăng mạnh và có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng, trong khi giá vàng tăng liền một mạch 400 USD/oz chỉ trong 2 tháng 7 và 8.

Kinh tế Việt nam

Năm 2011 tiếp tục chứng kiến những bất ổn vĩ mô nội tại của Việt Nam vẫn chưa thể được giải quyết: lạm phát cao, đầu tư công kém hiệu quả, thâm hụt thương mại, áp lực mất giá VNĐ, thị trường vàng bị đầu cơ. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn xuất hiện những điểm sáng tích cực như: nhập siêu giảm, dự trữ ngoại hối tăng lên, dòng vốn FDI và ODA giải ngân tích cực, cán cân thanh toán thặng dư, trong khi thâm hụt ngân sách được kiềm chế tốt.

Không nằm ngoài diễn biến chung của các nền kinh tế tại Châu Á, lạm phát tại Việt Nam đã tăng mạnh trong năm qua, đặc biệt trong 6 tháng đầu năm, với tốc độ tăng cao nhất khu vực, cả năm là 18,13%.Ngoài nguyên nhân do việc điều chỉnh một số mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu (giá xăng A92 2 lần điều chỉnh với tổng mức tăng là 4000 đồng, #30%) và điện (2 lần tăng, lần đầu tăng 15,28% vào tháng 3, lần 2 tăng 5% vào cuối tháng 12) , nhập khẩu lạm phát từ Trung Quốc, giá hàng hóa thế giới tăng cao, thì đây còn được xem là hệ quả của chính sách tài khóa mở rộng và nới lỏng tiền tệ trong vài năm gần đây.

Ngoài ra, việc điều chỉnh tỷ giá VNĐ/USD tăng mạnh đến 9,3% trong tháng 2 đầu năm nay (từ mức 18.932 lên 20.693) cũng góp phần khiến nhiều mặt hàng nhập khẩu tăng giá mạnh. Mặc dù sau đó Ngân hàng Nhà Nước đã điều chỉnh tỷ giá linh hoạt hơn, bớt mang tính giật cục hơn, nhưng với việc lạm phát leo thang và tăng trưởng tín dụng ngoại tệ quá cao trong những tháng đầu năm đã gieo nên tâm lý kỳ vọng phá giá VNĐ mạnh vào cuối năm, càng gây khó khăn cho việc điều hành tỷ giá. Tính đến ngày 31/12/2011, thì VNĐ đã mất giá khoảng 10% so với đầu năm.

Tuy nhiên, NHNN cũng đã khá thành công trong việc tăng cường kho dự trữ ngoại hối, khi sử dụng nhiều chính sách hành chính như bắt buộc kết hối các tập đoàn nhà nước, và tích cực mua USD vào thời điểm giữa năm, nhờ vậy đã phần nào đủ tiềm lực để can thiệp thị trường khi tỷ giá tăng nóng. Theo ước tính, dự trữ ngoại hối của NHNN đã tăng từ 12,3 tỷ USD năm 2010 lên 14,5 tỷ USD vào cuối 2011, thậm chí trong năm có thời điểm đạt mức 16,1 tỷ USD.

Bên cạnh đó, nhờ dòng vốn ODA và FDI vẫn giải ngân tích cực, kiều hối tăng mạnh cũng khiến cán cân thanh toán có thể thặng dư trong năm nay, giúp tăng nguồn cung ngoại tệ cho thị trường. Theo ước tính của Tổng cục thống kê, nguồn FDI giải ngân 2011 là 11 tỷ USD, kiều hối đạt 9 tỷ USD, trong khi nguồn vốn ODA giải ngân cũng tăng khoảng 150 tr USD so với 2010, đạt 3,65 tỷ USD.

Việc phá giá mạnh VNĐ trong năm cũng giúp hoạt động xuất khẩu tăng trưởng ấn tượng, đạt 96,3 tỷ, tăng 33,3% so với 2010 và cũng vượt 21% so với kế hoạch đề ra, trong khi nhập khẩu được kiềm chế giúp nhập siêu năm nay chỉ ở mức 9,5 tỷ USD, giảm gần 2,9 tỷ USD so với 2010, và cũng thấp hơn nhiều so với kế hoạch dự kiến. Cụ thể, tỷ lệ nhập siêu/ tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức 9,9%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 16% đặt ra hồi đầu năm. Đáng chú ý hoạt động xuất khẩu mạnh mẽ vàng và các kim loại quý trong thời điểm quý 3 cũng giúp giảm thâm hụt thương mại đáng kể, thậm chí còn đạt thặng dư hơn 1,1 tỷ USD trong tháng 7.

Không khác nhiều so với những năm trước, 2011 tiếp tục chức kiến thị trường vàng trong nước nhảy múa, thậm chí với cường độ còn mạnh hơn. Những biện pháp bình ổn thị trường của NHNN gần như không có nhiều tác dụng, khi giá vàng thế giới tăng quá mạnh, yếu tố đầu cơ lớn, lạm phát cao và VNĐ mất giá càng kích thích nhu cầu sở hữu kim loại quý này tăng lên, dẫn đến giá trong nước có thời điểm cao hơn giá thế giới đến 5 tr/lượng.

Tổng kết cả năm 2011, giá vàng thế giới đã tăng hơn 140 USD/oz, mức tăng này tương đối thấp so với mức tăng cao nhất có thời điểm đạt được trong năm đến 500 USD/oz. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng từ 36 tr/lương trong năm 2010 lên gần 42 tr/lượng trong năm 2011, mức tăng hơn 16%. Đáng chú ý trong năm có thời điểm mức tăng này lên đến 13 tr/lượng, đạt kỷ lục ở mức 49 tr/lượng vào giữa tháng 9.

Trước những bất ổn vĩ mô vẫn tồn tại dai dẳng, đặc biệt là bài toán lạm phát, chính phủ buộc phải thắt chặt tài khóa và tiền tệ một cách mạnh mẽ ngay từ những tháng đầu năm, thông qua Nghị quyết 11, và điều này đã ảnh hưởng đáng kể lên tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2011. So với những thời điểm cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng GDP trong năm luôn ở mức thấp hơn, thậm chí chính phủ đã phải điều chỉnh kế hoạch tăng trưởng GDP từ mức 7-7,5% về chỉ còn 6% trong đầu tháng 6.

Ngành ngân hàng - Những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến kết quả hoạt động 2011

Trước những khó khăn của nền kinh tế thế giới và bất ổn vĩ mô trong nước, ngành ngân hàng tiếp tục có một năm đầy biến động, mà đỉnh điểm là sự kiện hợp nhất 3 ngân hàng SCB, Ficombank và Việt Nam Tín Nghĩa vào tháng cuối năm. Hoạt động huy động vốn vẫn  khó khăn và chịu sự cạnh tranh quyết liệt trong bối cảnh lạm phát leo thang, trong khi tín dụng khó tăng trưởng do mặt bằng lãi suất cao và tính thanh khoản thiếu ổn định của hệ thống.

Những yếu tố khách quan

-    Lạm phát cao + trần lãi suất + chính sách hợp nhất các ngân hàng-> gây khó khăn trong huy động
-    Mặt bằng lãi suất cao + phải giảm dư nợ phi sản xuất -> tăng trưởng tín dụng bị hạn chế và rủi ro nợ xấu.
-    Lãi suất TT2 cao + hút ròng trên OMO -> thiếu hụt thanh khoản

Trong tình hình chỉ số CPI liên tục leo thang và duy trì ở mức cao trong 6 tháng đầu năm, người dân có xu hướng rút tiền gửi ngân hàng và đổ vào những tài sản có khả năng duy trì sức mua như vàng và USD. Điều này buộc các ngân hàng phải đẩy mặt bằng lãi suất huy động lên cao để thu hút tiền gửi, và một cuộc đua lãi suất quyết liệt đã diễn ra, đỉnh điểm trong giai đoạn tháng 4-5 và tháng 8-9. Trong khi đó, quyết định áp dụng trần lãi suất huy động VNĐ 14% của NHNN thật sự gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn, do không đủ tính hấp dẫn người gửi tiền. Chính sách hợp nhất các ngân hàng được đưa ra trong thời điểm cuối năm cũng nhất thời làm rúng động thị trường và người gửi tiền, khiến dòng tiền gửi tại một số ngân hàng nhỏ cũng bị ảnh hưởng.

Ở mảng cho vay, theo tinh thần của Nghị quyết 11, tăng trưởng tín dụng bị kiềm chế dưới 20% và áp dụng cho toàn hệ thống.Tuy nhiên, con số tăng trưởng thực tế cả năm của hệ thống cuối cùng lại thấp hơn nhiều, theo số liệu của NHNN tính đến 21/12/2011 chỉ đạt 10,9%. Chính chi phí vốn đầu vào cao đã đẩy lãi suất cho vay tăng tương ứng, và điều này đã hạn chế các doanh nghiệp vay vốn, trong khi một số ngân hàng lại sẵn sàng kiềm chế tín dụng tự nguyện do lo ngại rủi ro nợ xấu. Ngoài ra, các ngân hàng cũng buộc phải tích cực thu hồi các khoản cho vay phi sản xuất và không thể cho vay thêm, để đáp ứng yêu cầu của NHNN giảm tỷ lệ dư nợ phi sản xuất/ tổng dư nợ về 22% vào cuối tháng 6, sau đó là 16% vào cuối năm 2011.

Trên thị trường 2, lãi suất vay vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng bị đẩy lên cao, một số thời điểm còn cao hơn cả lãi suất trên thị trường 1, nhất là khi trong năm NHNN đã 5 lần tăng lãi suất tái cấp vốn, 2 lần tăng lãi suất chiết khấu và đến 7 lần tăng lãi suất trên thị trường mở. Nếu giai đoạn đầu năm nhu cầu vay cao do căng thẳng thanh khoản, thì những tháng cuối năm lãi suất thị trường liên ngân hàng đặc biệt cao ở những kỳ hạn dài là do một số ngân hàng nhỏ mất khả năng chi trả cho đối tác, dẫn đến các ngân hàng lớn yêu cầu phải có tài sản thế chấp và đặt ra mức lãi suất cao để hạn chế cho vay. Việc NHNN trong năm qua đã hút ròng mạnh mẽ trên thị trường OMO đã phần nào làm thiếu hụt tính thanh khoản trên hệ thống.

Việc NHNN ban hành TT 11 vào ngày 29/4, theo đó quy định về việc chấm dứt cho vay và huy động vốn bằng vàng của TCTD cũng khiến một số ngân hàng có thế mạnh trong hoạt động và cho vay vàng bị ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận. Tuy nhiên, thông tư 32 ban hành ngày 6/10 sau đó cho phép một số NHTM (trong đó có DAB) được bán vàng huy động để ổn định thị trường và mở lại vàng tài khoản để bảo hiểm rủi ro giá đã phần nào bù đắp được khoản lợi nhuận bị mất đi từ việc ngừng cho vay vàng trước đó.

Các dự báo vĩ mô liên tục thay đổi, chính sách của NHNN giật cục và mang tính bất ngờ cũng thật sự gây khó khăn cho ban lãnh đạo các ngân hàng trong hoạt động điều hành và thực thi chiến lược kinh doanh.

No comments:

Post a Comment