Phan Thụy

"Người giàu dùng nợ làm đòn bẩy đầu tư và gia tăng dòng tiền. Còn người nghèo dùng nợ để mua những thứ làm cho người giàu càng giàu thêm."Grant Cardone

Pages

Tuesday, December 20, 2011

Dự báo kinh tế 2012

I. Sơ bộ tình hình kinh tế 2011

Trong năm qua, nền kinh tế toàn cầu tiếp tục ảm đạm với nguy cơ kinh tế Mỹ có thể rơi trở lại suy thoái, vấn đề nợ công châu Âu tiếp tục trầm trọng hơn, các bất ổn địa chính trị tại Trung Đông – Bắc Phi, cũng như thảm họa sóng thần tại Nhật Bản cũng ảnh hưởng lớn đền nền kinh tế trong nước, cụ thể là khiến dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sụt giảm, khả năng xuất khẩu bị hạn chế, chi phí vay nợ nước ngoài của Việt Nam cũng tăng lên.

Nền kinh tế Việt Nam cũng đã trải qua 1 năm đầy biến động, với lạm phát tiếp tục 2 con số, thị trường vàng và ngoại hối diễn biến khó lường, thâm hụt thương mại ở mức cao, thị trường tài chính đầy bất ổn. Đặc biệt, chính sách tiền tệ thắt chặt với mặt bằng lãi suất cao đã khiến hoạt động của phần lớn doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, nhiều doanh nghiệp rơi vào cảnh phá sản, ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.



Về ngành ngân hàng, do khả năng quản trị rủi ro kém và bị mất cân đối giữa các kỳ hạn, tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam tiếp tục là vấn đề nổi cộm trong năm, khi mà nhiều ngân hàng bước vào cuộc đua lãi suất gây rối loạn thị trường, trong khi các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng lại bị co hẹp trong bối cảnh lãi suất có khi lên đến 30-40%. Đứng trước tình hình này, NHNN đang cho thấy quyết tâm sát nhập các ngân hàng lại để dễ dàng trong việc quản lý và thực thi các chính sách, cũng như tăng sức mạnh tài chính nội tại cho hệ thống ngân hàng.

Lần đầu tiên trong nhiều năm, NHNN cũng cho thấy quyết tâm kiểm soát và quản lý chặt chẽ hệ thống ngân hàng, thông qua những biện pháp hành chính mạnh tay và nghiêm khắc. Tuy nhiên, hiệu quả của những chính sách này có thể chỉ đạt được trong nhất thời, do các vấn đề mang tính cơ cấu và nội tại trong hệ thống vẫn chưa được giải quyết.

II. Dự báo 2012

1- Kinh tế thế giới

Vấn đề nợ công của Mỹ, khủng hoảng nợ công châu Âu, bong bóng trên thị trường tài chính Trung Quốc , lạm phát tại Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi sẽ tiếp tục là những vấn đề nổi bật của kinh tế toàn cầu trong năm 2012, do sẽ chưa thể giải quyết triệt để. Nền kinh tế thế giới mặc dù khó rơi trở lại cuộc suy thoái lần 2, nhưng khả năng hồi phục tăng trưởng mạnh là rất thấp.


Các nước phương Tây trước thực trạng kinh tế uể oải sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng định lượng, đặc biệt Mỹ có thể tung ra thêm một gói kích thích kinh tế QE3. Tuy nhiên, dòng tiền này phần lớn không ở lại trong nước để phát triển sản xuất, mà có thể đổ vào thị trường hàng hóa hoặc chảy ra tìm đến những nền kinh tế đang phát triển nóng như Trung Quốc hay các nước mới nổi để tìm kiếm lợi nhuận tức thời, và từ đó gây áp lực lạm phát lên các nước này. Đây là điều dường như đã diễn ra trong 2 năm qua, từ đó khiến cho sự phục hồi kinh tế sau suy thoái càng khó khăn hơn.

Nhóm nước PIGS (Bồ Đào Nha, Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha) sẽ đứng trước nguy cơ tiếp tục bị hạ bậc tín nhiệm, trong khi những nền kinh tế lớn khác trong liên minh sử dụng đồng EUR như Pháp và Đức cũng khổng phải là không có khả năng bị hạ bậc. Bên cạnh đó, các nước như Mỹ hay Nhật với tình hình nợ công tiêu cực cũng có thể bị các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hạ bậc, và điều này sẽ càng thúc đẩy dòng tiền đổ vào các thị trường hàng hóa trước rủi ro của thị trường tiền tệ.

Trong khi đó, đồng nhân dân tệ (NDT) vẫn tiếp tục xu hướng lên giá so với các đồng tiền khác, nhưng với mức độ từ từ. Tỷ giá NDT/USD được dự báo sẽ ở mức 6,50 NDT/USD vào tháng 5/2012. Bất ổn tiền tệ trong đó có sự thay thế vai trò của đồng USD là nguyên nhân dẫn đến một loạt các thay đổi trong chính sách dự trữ ngoại hối của các nước, trong đó đi đầu là NHTW các nước châu Á

2- Kinh tế Việt Nam

GDP

Với tình hình bất ổn của nền kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây, khiến đời sống người dân ngày càng khó khăn, giá trị VNĐ liên tục giảm xuống, thì chính phủ sẽ tiếp tục ưu tiên mục tiêu ổn định vĩ mô hơn tăng trưởng vào năm 2012. Trong khi đó, với diễn biến kinh tế thế giới ngày càng xấu đi, xuất khẩu ròng của Việt Nam sẽ tăng trưởng chậm lại, dòng vốn FDI đổ vào thấp hơn cũng khiến tăng trưởng kinh tế trong nước bị ảnh hưởng.

Đặc biệt, thời gian qua các chuyên gia kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đã nhận diện được một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao tại Việt Nam là chính sách đầu tư công không hiệu quả và lãng phí, do đó trong năm 2012 chính phủ có thể sẽ tiếp tục quản lý chặt chẽ chính sách đầu tư công, và điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng GDP, do từ trước đến nay mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào đầu tư.

Ngoài ra, tình hình khó khăn trong năm vừa qua cũng không cho phép nền kinh tế chạy đua với mục tiêu tăng trưởng. Các doanh nghiệp đều bị thấm mệt, ngấm đòn lạm phát cao trong năm qua, nhiều doanh nghiệp đã giảm lao động, chỉ chạy dưới 50% công suất sản xuất.

Theo các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn đang là một nền kinh tế phát triển quá nóng, với nhiều rủi ro  bất ổn, nhất là trong tình hình kinh tế toàn cầu vẫn đang trì trệ như hiện nay. Còn các chuyên gia kinh tế trong nước lại cho rằng không cần thiết phải quá chú trọng vào mục tiêu tăng trưởng GDP, mà nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện là kiềm chế lạm phát cho tốt.

Trong 11 năm qua, tốc độ tăng GDP bình quân của Việt Nam ở mức khá cao: 7,15%. Nhưng khi mà quy mô nền kinh tế ngày càng lớn lên, thì việc duy trì được một tốc độ cao là rất khó. Ngoài ra, với tình hình kinh tế thế giới 2012 chưa mấy sáng sủa, chính phủ với mục tiêu ổn định hơn tăng trưởng, quyết tâm tái cơ cấu nền kinh tế và hệ thống tài chính trong năm 2012, cùng với khả năng tiếp tục theo đuổi chính sách thắt chặt theo định hướng của Nghị quyết 11 đặt ra đầu năm nay, vì vậy dự báo tăng trưởng GDP 2012 chỉ ở mức 5,7% (cụ thể GDP 2012 theo giá so sánh 1994 có thể ở mức 618.033 tỷ), thấp hơn kế hoạch của CP: 6-6,5%.

Bất chấp mục tiêu ổn định vĩ mô và kiềm chế lạm phát của Chính phủ, CPI năm 2012 có thể vẫn nằm ở 2 con số. Thực tế thời gian qua cho thấy, chính phủ ít khi nào giữ vững chính sách một cách xuyên suốt để hướng đến mục tiêu đề ra. Ngoài ra, lạm phát giá thực phẩm là yếu tố góp phần quan trọng đẩy cao lạm phát nói chung, trong khi khả năng Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục chính sách gom mua hàng hóa nông sản của Việt Nam trong những năm tới, do nhu cầu ngày càng tăng cao trong khi giá hàng hóa tại nước này liên tục leo thang.

Một yếu tố đáng lưu tâm là chi phí đẩy của nền kinh tế năm 2012 rất lớn, như việc thị trường hóa các mặt hàng điện, xăng dầu sẽ khiến giá điện, xăng tăng lên, tiền lương tăng theo lộ trình (từ 830.000-1.050.000 đồng/người/tháng), giá lương thực cũng có xu hướng leo thang mà dư địa chính sách không còn nhiều.

Trong năm 2012, khả năng giá điện điều chỉnh tăng là rất cao. Thực tế gần đây Tập đoàn điện lực Việt Nam đã đề xuất lên Bộ Công Thương xin tăng giá điện thêm 11-13%, nhưng bị bác bỏ, nguyên nhân có thể là do các nhà hoạch định chính sách không muốn gây thêm áp lực lên lạm phát, vốn đã rất cao trong năm nay. Tuy nhiên, bước vào năm 2012, khi mà chỉ số CPI còn nhiều room trong những tháng đầu năm, việc giá điện nếu được điều chỉnh tăng là một điều không quá bất ngờ. Và thực tiễn cho thấy, mỗi khi giá điện và giá xăng dầu được điều chỉnh tăng là gây áp lực lên lạm phát lớn nhất.

Bên cạnh đó, một sự điều chỉnh tỷ giá nữa cũng sẽ góp phần gây ra lạm phát kỳ vọng. Dự báo CPI 2012 có thể ở mức 13%.

Cán cân thanh toán

FDI

Chi phí nhân công đang ngày càng tăng cao tại Trung Quốc sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài di chuyển hoạt động sản xuất sang các nước láng giềng như Việt Nam, nơi có chi phí nhân công rẻ hơn. Tuy nhiên, khi mà tình hình kinh tế toàn cầu vẫn còn khá nhiều rủi ro thì dòng vốn FDI sẽ khó dịch chuyển mạnh, trong khi những bất ổn vĩ mô gần đây của Việt Nam như lạm phát cao, mức độ phá giá của VNĐ lớn, chính sách kiểm soát và quản lý chặt chẽ hơn các hình thức chuyển giá của doanh nghiệp FDI, sẽ càng khiến các doanh nghiệp nước ngoài thận trọng hơn khi muốn đầu tư vào Việt Nam. Trong khi đó, định hướng tái cơ cấu nền kinh tế từ 2012 cũng sẽ khiến nền kinh tế ít nhiều bị xáo trộn, vì vậy dự báo FDI sẽ khó tăng trưởng mạnh.

ODA

 Đối với nguồn vốn ODA, tình trạng thâm hụt ngân sách và nợ công cao tại các nước phát triển và cuộc khủng hoảng nợ công tại khu vực Eurozone có tác động mạnh đến dòng vốn ODA thế giới năm 2012. Nguồn vốn ODA dành cho Việt Nam do đó  cũng có thể suy yếu, đặc biệt khi mà Nhật Bản – đối tác cung cấp ODA hàng đầu cho Việt Nam, vẫn đang trong giai đoạn tái thiết sau sự phá hoại của sóng thần vào đầu năm nay.

Xuất nhập khẩu

Hoạt động xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt vấn đề nợ công tại châu Âu ngày càng thêm trầm trọng có thể khiến hoạt động thương mại với khu vực này bị sụt giảm. Bên cạnh đó, bảo hộ thương mại đang có xu hướng ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), tốc độ tăng trưởng khối lượng thương mại thế giới năm 2012 có thể chỉ đạt 6,7% (giảm 0,2% so với mức dự báo trước). Tuy nhiên, do các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là mặt hàng thiết yếu, nên mức độ ảnh hưởng cũng không quá lớn.

Kiều hối

Theo ước lượng của NHNN, tổng trị giá kiều hối 2011 chỉ vào khoảng 8 tỷ USD, giảm nhẹ so với 2010. Trước tình hình nền kinh tế toàn cầu vẫn ảm đảm, khả năng lượng kiều hối đổ về trong năm 2012 cũng khó có khả năng tăng trưởng mạnh, trong khi xu hướng bà con Việt kiều ngày càng trở về sống tại quê nhà làm ăn sẽ nhiều hơn, khi mà tình hình kinh tế tại nhiều nước đang rất khó khăn, với tỷ lệ thất nghiệp cao. Dự báo lượng kiều hối 2012 ở khoảng 8,3 – 8,7 tỷ USD.

Dự trữ ngoại hối

Trong năm 2012, NHNN có thể tiếp tục mua vào USD để tăng kho dự trữ ngoại hối, vì theo mục tiêu của NHNN là nâng dự trữ ngoại hối lên bằng 12 tuần nhập khẩu vào năm sau (ước tính khoảng 30 tỷ USD, trong khi mức dự trữ hiện tại đang ở vào khoảng 15 tỷ USD). Với cầu USD tăng lên, trong khi cung bị hạn chế tăng, thì căng thẳng tỷ giá sẽ tiếp tục là vấn đề chưa thể giải quyết được. Ngoài ra, việc phá giá VNĐ sẽ giúp hàng xuất khẩu Việt Nam cạnh tranh hơn, khi mà tỷ giá hiệu dụng thực của Việt Nam (REER) đã tăng mạnh từ 2004 và khiến hàng Việt Nam giảm đi sức cạnh tranh khá lớn.

Tỷ giá
Tỷ giá VNĐ/USD vẫn đang được kỳ vọng sẽ tiếp tục điều chỉnh tăng, do tỷ giá hiệu dụng thực (REER – real effective exchange rate) của VNĐ vẫn đang ở mức cao và tăng mạnh kể từ 2004 (VNĐ thực tế đã tăng giá so với đồng tiền của các đối tác thương mại khác nếu có hiệu chỉnh theo yếu tố lạm phát) , khiến hàng hóa Việt Nam giảm sức cạnh tranh. Một động thái tiếp tục phá giá VNĐ trong năm 2012 sẽ giúp hàng xuất khẩu Việt Nam cạnh tranh hơn, nhưng đồng thời cũng có thể gây áp lực lên lạm phát. Dự báo mức độ phá giá VNĐ ở khoảng 6%.

Thị trường vàng, thị trường chứng khoán & bất động sản

Mặc dù đã trải qua 11 năm tăng giá liên tiếp, nhưng thị trường vàng có thể tiếp tục duy trì được xu hướng tăng trước tình hình bất ổn của nền kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, lực mua vào từ các ngân hàng trung ương với mục đích đa dạng hóa dự trữ ngoại hối trong bối cảnh đồng USD không còn duy trì được sức mạnh trước chính sách nới lỏng định lượng của mình, cũng sẽ giúp thị trường khó có thể điều chỉnh giảm sâu. Giả sử nếu như kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi tốt trở lại, thì lúc đó lo lắng về lạm phát khi mà trong 3 năm qua các NHTW đã nới lỏng chính sách quá nhiều cũng sẽ khiến giới đầu tư tìm đến vàng.

Tại Việt Nam, các ngân hàng sẽ phải dừng việc huy động vàng chậm nhất là vào tháng 5/2012. Tuy nhiên, hiện tại một số ngân hàng đã bắt đầu triển khai các dịch vụ giữ hộ vàng có trả kèm lợi tức, và điều này sẽ tiếp tục khuyến khích người dân chuyển tài sản thành vàng để duy trì sức mua. Thậm chí ngay cả khi dịch vụ giữ hộ vàng không trả lợi tức và có thu phí (điều có thể sẽ xảy ra trong tương lai), thì người dân sẽ vẫn ưu tiên nắm giữ vàng. Điều cần thiết là ngân hàng nhà nước phải huy động được lượng vàng từ dân cư để đưa vào tài trợ cho các hoạt động sản xuất, do đó việc thành lập một sàn vàng quốc gia hoặc phát hành các trái phiếu vàng có thể sẽ bắt đầu được khởi động trong năm 2012.

Thị trường chứng khoán có thể phục hồi và sáng sủa hơn so với 2011, do tâm lý kỳ vọng tình hình xấu nhất của nền kinh tế vĩ mô đã qua đi. Trong khi đó, việc quản lý chặt chẽ trần lãi suất huy động sẽ khiến kênh gửi tiết kiệm không còn hấp dẫn, dòng vốn này một phần có thể chảy vào thị trường chứng khoán để tìm kiếm suất sinh lợi cao hơn. Tuy nhiên, nếu thị trường không có những thay đổi tích cực về mặt quản lý thì đà tăng trưởng khó có thể được duy trì bền vững.

Theo thống kê lịch sử, có một số ý kiến cho rằng năm 2012 có thể sẽ xuất hiện sóng bất động sản, theo đúng chu kỳ 5 năm 1 lần. Tuy nhiên, với những gì đang diễn ra trước mắt, thị trường bất động sản khả năng sẽ tiếp tục đóng băng trong năm sau. Các khoản cho vay bất động sản đang bị hạn chế, cầu thực về nhà ở khá thấp do giá thị trường hiện tại quá cao so với thu nhập, tính đầu cơ lớn trong thị trường đã tạo ra bong bóng tài sản đầy rủi ro, tất cả những yếu tố này có thể khiến 2012 tiếp tục là một năm không mấy sáng sủa với thị trường bất động sản. Giá cả nào rồi cũng trở về với giá trị thực, và Việt Nam đang trải qua giai đoạn bong bóng nhà đất – quá trình mà bất kỳ một nền kinh tế nào cũng phải trải qua. Bong bóng nhà đất tại Nhật đã nổ tung những năm 90, tại Mỹ là vào năm 2005 và đã bắt nguồn gây ra cuộc Đại khủng hoảng vừa qua, Trung Quốc đang đối diện với nguy cơ này, và Việt Nam có thể sẽ không còn lâu nữa.

3- Ngành ngân hàng
Tái cơ cấu và sát nhập

Theo định hướng của chính phủ “Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính, tín dụng theo hướng tăng hợp lý về quy mô, giảm nhanh số lượng các ngân hàng và tổ chức tín dụng yếu kém; nâng cao chất lượng tín dụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng”, thì trong năm 2012 có thể sẽ diễn ra hàng loạt các cuộc sát nhập trong ngành ngân hàng, hoặc các thương vụ mua lại. Điển hình gần đây nhất là vụ sát nhập giữa ngân hàng Liên Việt và công ty tiết kiệm Bưu Điện, hay thương vụ mua lại ngân hàng Gia Định của CTCK Bản Việt. Đây có thể tiếp tục là trào lưu 2012, đặc biệt khi mà một số ngân hàng khó có khả năng đáp ứng được việc tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ vào hạn chót là cuối năm nay,

Ưu tiên chính sách thắt chặt

Với lạm phát vẫn ở mức cao, trong khi mục tiêu của chính phủ là chú trọng ổn định vĩ mô hơn tăng trưởng, thì không khó để có thể đoán được chính sách thắt chặt sẽ tiếp tục được ưu tiên hơn trong năm 2012. Theo chính phủ cho biết trong năm 2012 sẽ vẫn thực thi các giải pháp theo Nghị quyết 11 được đưa ra từ hồi đầu năm nay, tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu chính sách thắt chặt có được duy trì theo đuổi cho đến hết cuối năm.

Mặc dù mục tiêu tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán chưa được đưa ra, nhưng có khả năng ngân hàng nhà nước (NHNN) sẽ đặt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 2012 tiếp tục giảm so với năm nay, có thể nằm vào khoảng 16-17%.  Thực tiễn cho thấy trong năm qua, tăng trưởng tín dụng của ngành là khá thấp trong những tháng đầu năm. Nguyên nhân chính do lãi suất cho vay cao nên hạn chế các doanh nghiệp tìm đến nguồn vốn ngân hàng, trong khi chính các ngân hàng cũng hạn chế cho vay do lo ngại rủi ro.

Tính thanh khoản vẫn thiếu hụt

Việc tiếp tục thực thi trần lãi suất huy động một cách nghiêm ngặt sẽ khiến kênh gửi tiết kiệm không còn hấp dẫn. Dòng tiền có thể vẫn tìm đến thị trường vàng hoặc chứng khoán với kỳ vọng tìm kiếm một suất sinh lời cao hơn. Điều này khiến nguồn vốn đầu vào của các ngân hàng khó tăng trưởng mạnh, trong khi tình trạng mất cân đối kỳ hạn giữa cho vay và huy động hiện diện trong nhiều năm qua sẽ chưa thể giải quyết, và do đó sẽ tiếp tục có những thời điểm căng thẳng thanh khoản trong hệ thống.

Ưu tiên chính sách thắt chặt, NHNN có thể sẽ hạn chế lượng tiền bơm qua kênh OMO, thay vào đó trực tiếp bơm thanh khoản cho những ngân hàng gặp khó khăn thông qua kênh tái cấp vốn, chính sách mà NHNN đã thực hiện khá đều đặn trong nửa cuối năm 2011. Vì vậy, mặc dù tính thanh khoản vẫn thiếu hụt nhưng khả năng lãi suất liên ngân hàng sẽ không tăng quá mạnh như trong năm 2011, do các ngân hàng nhỏ có điều kiện tiếp cận trực tiếp với nguồn vốn từ NHNN hơn, và không quá phụ thuộc vào nguồn vốn trên thị trường 2. Ngoài ra, việc sát nhập hay mua lại cũng sẽ giúp sức mạnh tài chính nội tại của các ngân hàng nhỏ tốt hơn.

Lãi suất có thể giảm nhẹ

Mặt bằng lãi suất 2012 có thể giảm nhẹ so với 2011, khoảng 1-2%, nhờ vào những chính sách quản lý, kiểm soát nghiêm ngặt việc thực hiện trần lãi suất của NHNN, đồng thời chính sách hỗ trợ thanh khoản trực tiếp cho các ngân hàng gặp khó khăn thông qua kênh tái cấp vốn.

Khả năng CPI thấp hơn so với năm 2011 cũng tạo điều kiện cho NHNN thoải mái thực hiện việc giảm dần mặt bằng lãi suất thị trường. Và điều quan trọng nhất là nếu lãi suất không giảm thì hoạt động của các doanh nghiệp sẽ tiếp tục khó khăn và thậm chí thêm nhiều doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể, đưa đến nguy cơ sản xuất bị đình trệ và có thể dẫn đến lạm phát đình đốn, tức lạm phát cao do thiếu hàng hóa nhưng tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng cao do các doanh nghiệp co hẹp sản xuất. Một mặt bằng lãi suất từ 20% trở lên là quá cao so với hoạt động của các doanh nghiệp.

Ngoài ra, việc duy trì một mặt bằng lãi suất cao cũng khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh phát hành trái phiếu gặp khó khăn, khi mà lợi suất đấu thầu của các TPCP thường ít khi vượt quá mức 13%, mà chỉ phổ biến 10-11%. Theo số liệu tính toán cho thấy, năm 2012 giá trị TPCP (gồm cả bảo lãnh) đáo hạn hơn 70 nghìn tỷ, giả sử kế hoạch cần huy động thêm khoảng 50 nghìn tỷ (2010 là 45 nghìn tỷ), thì tổng giá trị trái phiếu chính phủ cần phải phát hành trong năm 2012 là hơn 120 nghìn tỷ, tăng 25 nghìn tỷ so với 2010. Đây là một con số khá lớn, vì vậy nếu lợi suất quá thấp so với mặt bằng lãi suất thị trường thì khả năng phát hành thành công sẽ không cao.

Xu hướng phát triển việc huy động và cho vay bằng các ngoại tệ khác ngoài USD

Mục tiêu của NHNN đang tiến dần đến việc xóa bỏ tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế, và thực tế trong năm 2011 cơ quan này đã ban hành nhiều chính sách giảm dần khả năng thanh toán cũng như sức hấp dẫn của USD như: áp trần lãi suất huy động USD, kết hối các DNNN, han chế đối tượng vay USD, kiểm soát chặt chẽ thị trường mua bán ngoại tệ tự do, tăng dự trữ bắt buộc ngoại tệ...Và chắc chắn những chính sách này sẽ được duy trì, thậm chí có thể có thêm nhiều chính sách khác để nâng cao giá trị của VNĐ.

Tuy nhiên, với chênh lệch lãi suất quá cao giữa VNĐ & USD (mặc dù lãi suất cho vay VNĐ có thể giảm về thấp hơn so với 2011), nhưng các doanh nghiệp vẫn sẽ tìm cách lách để tiếp cận với nguồn tín dụng USD. Về phía các ngân hàng, có thể đẩy mạnh việc huy động và cho vay các ngoại tệ khác, thay vì chỉ tập trung vào USD như trước đây, với mục đích đa dạng hóa cũng như tránh bị ảnh hưởng bởi những chính sách quản lý của NHNN đối với đồng USD. Các đồng tiền có thể được ưa chuộng là: EUR, AUD, JPY, CNY, vì đây cũng là những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, và nguồn kiều hối từ những quốc gia này cũng tương đối ổn định.

Nợ xấu tăng cao

Năm 2012, vấn đề nợ xấu có thể trở thành một trong những khó khăn và rủi ro thật sự của các ngân hàng, vì những lý do sau:

+ Mặt bằng lãi suất cho vay quá cao trong năm 2011 đã khiến hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn, và đa số các doanh nghiệp không thể chịu được mức lãi suất cao như thế. Do đó những khoản vay này khó có thể hoàn trả đúng thời hạn. Theo một thống kê cho thấy 9 tháng đầu năm 2011 đã có 48 nghìn doanh nghiệp phá sản, và con số này có thể sẽ còn tiếp tục tăng lên trong tình hình khó khăn hiện nay.
+ Những cuộc vỡ nợ trong năm 2011 sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng cho đến tận năm sau, và các khoản vay này rủi ro mất vốn là rất cao.
+ Thị trường bất động sản sẽ vẫn ảm đạm trong năm 2012, điều này đồng nghĩa với các khoản vay bất động sản sẽ không thể chi trả đúng thời hạn.
+ Các cuộc sát nhập, mua lại và định hướng tái cơ cấu ngành ngân hàng sẽ buộc các tổ chức phải minh bạch và chuyển nhóm nợ xấu theo đúng quy định của quốc tế. Một cuộc điều tra gần đây cho thấy tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành chỉ ở mức trên 3%, nhưng nếu áp theo tiêu chuẩn quốc tế có thể lên tới 6-7%, hoặc trên 10% như ước tính của hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings.

No comments:

Post a Comment